Friday, July 2, 2010

Nhà mình ở đâu?

Con tàu loang lổ những vết sơn tróc để lộ ra từng mảng kim loại hoen rỉ. Những khuôn mặt mệt mỏi vào cuối ngày lấp đầy ghế trong khoang hạng ba. Mưa ào ạt tràn vào trong tàu qua khe hở giữa các toa, làm sàn nhà nhớp nháp một lớp nước đen kịt. Ông bán hàng rong ôm trọn cái làn vào lòng rồi tay giữ sarong, khom người chạy vụt qua trước khi nước mưa kịp ngấm vào những chiếc bánh tôm vàng cóng trong làn. Không khí đặc quánh vào một ngày mưa.

Tàu về tới Galle là lúc từng thớ cơ phút trước còn căng cứng và ra sức chống chọi với sự náo nhiệt bất tận của Pettah lại dãn ra. Nhảy chân sáo ra bến bus khi trời đã lờ mờ tối, chẳng để ý ấy bác lái xe bụng béo, râu ria xồm xoàm đang vẫy tay rối rít: Đi đâu vậy? Xe bus của mình đây cơ mà! Sao hôm nay đi về muộn thế? Vậy là cũng thấy vui cứ cười khúc khích cả chặng đường về.

So với Colombo, New town ở Galle chẳng khác nào một cô nông dân quê mùa mà lúc nào cũng nhốn nháo nhặng xị. Xe bus chạy bạt mạng, người nhảy lên nhảy xuống xe ầm ầm, điệu nghệ và khéo léo như làm xiếc. Lũ con trai cấp 3 đồng phục trắng tinh đứng tựa vào đoạn tường thấp tè ở bến xe, ra điệu rất bảnh: Này cô bé! Này cưng! Những cửa hàng bán đồ ăn chỉ đặc một bầy ruồi ve vẩy rất phiền nhiễu. Lộn xộn. Nhốn nháo nhưng mà vẫn duyên đáo để. Galle bé tí tẹo nên ai cũng biết mặt nhau. Chỉ cần 1 tuần là các bác tài thuộc lòng nơi mình sẽ nhảy bus. Đi ra đường một tẹo là có người này người kia hỏi có phải sống ở nhà Janaka không? Ngồi trên bus mặt đờ đẫn sẽ có người quay sang bắt chuyện rôm rả như quen thân lâu lắm rồi.

Ở Galle đã thân quen như vậy về nhà ở Galegadia còn thấy vui hơn. Cái làng bé tí tẹo với đủ thứ tôn giáo và cũng đủ cả động vật hoang dã. Lũ khỉ ngáo ngơ rú rít ầm ĩ vào mỗi sáng trên cây mít sau nhà. Mấy con sóc chuột leo thoăn thoắt trên mái. Vào một tối muộn từng đám đom đóm lập lòe rập rình sau những bụi cây. Vậy mà cũng sống được với nhau hết cả.

Hay đó chỉ là sự hòa nhã nhẫn nhịn phỉnh phờ? Bởi lũ khỉ trông thiện chí với con người là thế cũng nhảy nhót tưng bừng, tạo nên chi chít lỗ hỏng trên mái. Nước cứ thế mà tràn vào khi trời mưa to. Thỉnh thoảng chúng cũng ném mít rơi cái bộp xuống đất, phóng khoáng theo kiểu "Mặc mẹ chúng mày. Trúng ai thì trúng" làm Kristina cứ la oai oái như phải bỏng. Bởi vì ông sư trong ngôi đền luôn bật băng cát sét tiếng cầu nguyện rầm rì vào đúng 5 giờ sáng như một lời đáp trả cho tiếng cầu khấn ền ĩ vào đúng 5 giờ chiều của đám dân đạo Hồi sống ngay bên đường nhựa. Không biết được.

Vẫn cứ muốn quay lại để được ôm trọn vào lòng nơi chốn ấy, để lúc nào cũng sống trong không khí hội hè của những cú chạm về tôn giáo, về sự cạnh tranh ngấm ngầm với những con thú bộ linh trưởng. Nơi đủ bé để người ta thấy gần nhau và cần nhau, để thấy hòa hợp giữa những khác biệt. Hội hè náo nhiệt mà vẫn dung dị thôn quê.

Tuesday, June 15, 2010

Lan man về con người

Tôi đang bên bờ sông bên bờ sông ngắm mặt trời lặn. Mặt trời vẫn chưa xuống khuất hẳn sau tán rừng của công viên Minneriya phía bên kia sông. Vẫn còn chục phút nước ông lái xe tuk tuk mới quay lại đón. Ở phiến đá gần nhất với mép nước, một người đàn bà đang mải mê xát xà phòng lên cánh tay màu đồng. Trong không gian tĩnh lặng như vậy chỉ có tiếng nhà sư đang cầu kinh vọng từ chiếc loa của ngôi làng gần kề. Ngắm mặt trời mọc và mặt trời lặn ở cái xứ này lúc nào cũng như một nghi lễ tôn giáo. Không ở đâu là không nghe thấy tiếng các nhà sư tụng kinh và tiếng trống và kèn âm ỉ đến nẫu cả ruột.

Từ vài phút trước, tôi đã nghe tiếng chiếc xe bảy chỗ đang chạy băng băng thì đỗ lại cái xịch cách chỗ tôi ngồi dăm mét. Một lúc sau thì anh ta bước tới bắt chuyện. Anh chàng đậm người mặc chiếc áo sơ mi màu xanh thẫm có những sọc trắng nhỏ. Mặt anh lấm tấm mồ hôi.
- Cô đang làm gì thế?
- Anh không thấy sao? Ngắm hoàng hôn.

Im lặng 1 phút.
- Tôi vừa đi ăn cưới về
- Đám cưới của anh à?
- Không anh trai tôi cưới. Giờ thì chúng tôi chuẩn bị đi tắm sông.

Lại im lặng
- Tôi có đang làm phiền cô không?
- Không hẳn đâu

Và rồi đứng lên, bắt tay.
- Tôi phải đi rồi đây. Rất vui được gặp cô. Hãy cẩn thận nhé.

Lúc anh ta đi rồi tôi mới phá lên cười rất to.



Loanh quanh cái bếp


Căn bếp ở Vanreeth lúc nào cũng chìm trong một đám khói dày ụ sực mùi củi khô và vỏ dừa rất bùi. Ken đặc trên trần nhà thấp tè nơi đun bếp là một lớp muội đen sì, tạo nên những mảng màu tối xen lẫn với nền tường màu trắng. Nguồn sáng tạm bợ trong bếp là cái bóng đèn đỏ đã bị muội than phủ mờ và ánh sáng mặt trời yếu ớt từ cửa sổ bị chặn lại một lớp rèm hoa bằng nilon. Trong bếp thứ được dùng nhiều nhất là cái nạo dừa với những khía răng cưa sắc nhọn như một mũi khoan để bào thật mỏng cùi dừa thành những sợi tơ nhỏ li ti trắng xóa. Một khay đầy những lọ ớt bột, lá cà ry khô, bột nghệ, quế và hồi, hạt cây thì là và tiêu,... nằm khiêm tốn ở một góc bếp.

Mình hay nhẩn nha, tha thẩn lỉnh vào bếp chơi sau khi đã chán chê chơi carom 3 hiệp thua sạch bách với các cụ ông và lần nào cũng bị hắt hủi. Bà sơ miệng không nói ra nhưng khuôn mặt lộ rõ vẻ khiếp đảm sau khi mình loi nhoi chạy vào bếp giúp phục vụ trà thảo dược và kẹo đường cho các cụ trong trại dưỡng lão lúc 11 giờ. Nhiệm vụ cao nhất tới giờ chỉ là thái ớt và nhặt rau.

Với bà sơ và các cô đầu bếp thì căn bếp cứ như là một thánh địa. Đương nhiên một nơi thiêng liêng như vậy thì tốt nhất là nên hạn chế con bé mắt tròn mắt dẹt, mồm hỏi liếng thoắng bước vào, phá vỡ sự im lặng và tập trung cao độ của việc nấu nướng vốn đòi hỏi rất nhiều công sức.

Trông cầu kì và khó nhọc là thế nhưng nền ẩm thực của Sri Lanka không thể gọi là đặc sắc khi chục loại bánh tên gọi khác nhau nhưng nhân bánh thì quanh quẩn chỉ khoai tây với bột cà ry, trứng luộc với bột cà ry và cá băm với bột cà ry. Lớp vỏ bánh được chiên trên chảo dầu lai căng theo kiểu pancake hay crepe ăn dai dai và khô khốc. Ngoạm một miếng bánh mà ứa nước mắt vì mùi quế và ớt xông lên đến buốt cả óc, trong lòng thì canh cánh lo sợ nó sẽ kẹt ở họng mà không trôi xuống dạ dày vì quá khô và quá nồng gia vị.

Thế mà mình vẫn nhớ cảm giác thèm thuồng khi đứng trước 1 cửa hàng bán hopper ở Kandy. Bột tráng trong một chiếc chảo tròn để tạo thành những chiếc bát bột mỏng tang vàng rộm có phần đáy bột dai dai. Sambol sữa chua và lá bạc hà thơm mát và the lạnh làm màu cho phần kottu roti khô đanh ở hòm vọng. Watalappan sữa dừa béo ngậy, ăn mềm và xốp mịn đến tan chảy cả lưỡi. Từng thìa curd làm từ sữa trâu chua đanh rất hợp với mật cây thốt nốt óng ánh màu đồng có vị khen khét như caramel. Mùi hương thơm phức khi bóc lớp lá chuối của lamprai để lộ ra lớp gạo giờ đã nhuốm màu xanh lá mạ cùng một miếng thịt gà quay có lớp da đỏ rực gia vị.

Đấy mình cứ yêu Sri Lanka giản đơn như yêu đu đủ ăn với vài giọt chanh chua dịu vào bữa sáng, như coconut roti và chilli sambol cay xé lưỡi vào buổi trưa, như cơm gạo nâu và dhal vàng rực vào bữa tối. Người Sri Lanka dung dị và gần gũi như món ăn Sri Lanka không cầu kỳ trong cách chế biến và không chú trọng phần trình bày và bố cục món ăn sau khi thành phẩm. Ấy thế mà mình vẫn có thể gọi trong đầu rõ ràng mùi vị và màu sắc của từng món ăn khác nhau, biết yêu và biết nhớ ngần đấy thứ hương sắc không cầu kỳ, xa hoa.

Monday, June 14, 2010

Cho những vùng đất bị quên lãng


Khi mở cửa ra là thấy Ấn Độ Dương xanh và trong như một quả cầu pha lê. Ánh nắng vàng rực chạy trên đầu những ngọn sóng nhỏ tạo thành những chấm lóng lánh trên mặt biển. Một cơn gió từ ngoài khơi xa ập tới, làm rung động tán dừa ở sân dưới, đem theo thứ mùi hương đặc trưng từ nơi chân trời bất tận. Chỉ muốn hít cho căng lồng ngực mùi mằn mặn của biển đang lan tỏa trong không khí. Đại dương là thế này đây. Trong cái sự buồn thảm của những hành trình đơn độc vẫn thấy mình đủ đầy và khoáng đạt.

Ở Trincomalee, mọi cảnh vật đều khiến tôi nghĩ tới những nỗi đau âm ỉ và những vùng đất bị quên lãng. Trên những con phố rộng rãi chỉ có nhiều nhất là những con chó gầy rộc chạy rông, một đàn dê đang thơ thẩn trên đống rác. Dãy xe đạp rỉ sét nằm tựa vào bức tường vôi cũ kỹ. Dây xích nằm la liệt như những súc lòng lợn đỏ quạch trên vỉa hè. Những người lái xe tuk tuk ngồi buồn bã dưới bóng râm trước cửa Koneswaram sọc trắng và đỏ. Đám đông lố nhố ở trạm chờ xe bus duy nhất trong trấn. Những ánh nhìn lạ lẫm. Cũng phải thôi. Đã bao lâu rồi họ đâu có đến một người khách lạ.

Và trong ánh sáng nhập nhoạng khi trời dần tối, cố gắng nhặt nhạnh một vài mẩu đối thoại vụn vặt với ông chủ quán ăn khi đang chiến đấu với cơn nóng dai dẳng chực bủa vây.
- Trinco lúc nào cũng mất điện thế này sao?
- Lần đầu tiên trong vòng 3 tháng đấy.
- Tại sao lại chọn đúng lúc tôi mới sang đây chứ?
- Thành phố quý cô rồi.

Sáng sớm. Khi bình minh chưa tỉnh giấc trên những mái nhà còn thơm mùi vôi vữa. Khi đi qua những ngôi mộ trong nghĩa trang thành phố. Khi trận cricket ban sáng mới bắt đầu. Khi bắt gặp một em gái trong bộ váy trắng tinh, tóc buộc dây nơ đỏ đạp xe tới trường. Khi tiếng chuông vang lên rộn rã từ một đền thờ Hindu và mọi người nhất loạt giơ hai tay lên trời như đang khẩn cầu một điều gì đó rất tha thiết.

Tôi ghi nhớ tất cả những mùi hương ấy, những sắc màu ấy, những gương mặt ấy. Để rồi một buổi sáng thức dậy, tôi biết rằng nó không bị lãng quên. Ít nhất dù chỉ là trong tâm trí thôi.

Saturday, June 12, 2010

Monsoon in Indian Ocean


The next thing I know is that I should pack my bag and then go.




Thursday, June 3, 2010

I was in my room. Half-awake, half asleep. My lightly closed eyes slowly adjusted to the darkness hanging silently in this room. The only light source in the room was the dim light from the street lamp near my window. I had only read Chapter 1 of “Running in the Family” by Michael Ondaatje but I already dreamt of Sri Lanka, of luxuriant verdant tea plantations, of dark yellow king coconuts. The hopeless look on the faces of little children in a photo of the tsunami in Sri Lanka haunted me even in the most vibrant dream. That was when I decided that I would go to Sri Lanka. Four weeks later, I found myself standing at the airport with a suitcase of summer clothes and sun block enough for two months of volunteering.

The following weeks were the incessant struggles. Outside was the scorching heat that can make even the most patient person grumpy after five minutes of walking. Inside were thirty overly excited students who paid no attention to me-their English teacher. I took a quick look. There was no lamp but the sunlight from a hole on the roof. The classroom had a few stained desks and some drawings stuck sloppily on the pale yellow wall. The smell of mouldy wooden desk mingled with the smell of urine. I stood in front of the black board and looked at the kids helplessly. They were supposed to hear the story of Natasha’s noisy aeroplane and learn the letter “N” correctly instead of roaming wildly around the classroom. Five minutes had passed and I decided not to call their Sinhalese teacher. Instead, I challenged myself to handle these lively children on my own- like a real teacher.
- Hey class, let’s sing a song!
As I started singing and dancing “If you’re happy and you know it”, the hectic class became quiet. Some of them tried to follow my movements: Nod your head! Clap your hand! I kept on singing until the whole class joined in. Once I got their attention, it was easier to start my lesson.

I had eight periods like this twice a week. At the end of each day, I would lose my voice and feel absolutely exhausted yet happy and stimulated. I learned to encourage my students even when they didn’t follow instructions. Most of them don’t even have a proper notebook, only a stack of paper. They struggle to go to school and I just want to give them a fun time learning English.

Saturday, May 29, 2010

The Cinnamon peeler

If I were a cinnamon peeler
I would ride your bed
and leave the yellow bark dust
on your pillow.

Your breasts and shoulders would reek
you could never walk through markets
without the profession of my fingers
floating over you. The blind would
stumble certain of whom they approached
though you might bathe
under rain gutters, monsoon.

Here on the upper thigh
at this smooth pasture
neighbor to your hair
or the crease
that cuts your back. This ankle.
You will be known among strangers
as the cinnamon peeler's wife.

I could hardly glance at you
before marriage
never touch you
-- your keen nosed mother, your rough brothers.
I buried my hands
in saffron, disguised them
over smoking tar,
helped the honey gatherers...

When we swam once
I touched you in water
and our bodies remained free,
you could hold me and be blind of smell.
You climbed the bank and said

this is how you touch other women
the grasscutter's wife, the lime burner's daughter.
And you searched your arms
for the missing perfume.
and knew
what good is it
to be the lime burner's daughter
left with no trace
as if not spoken to in an act of love
as if wounded without the pleasure of scar.

You touched
your belly to my hands
in the dry air and said
I am the cinnamon
peeler's wife. Smell me.

Noisy solitude





This is how traveling alone feels to me.

Sunday, May 9, 2010

Dinner conversation

So one day we decided that we were going to get married again to renew our vow and refresh our marriage. We wanted to take a wedding photo with our children in it. We couldn't do it in Galle 'cause everyone would laugh at our faces. So we all went to Colombo and looked for a studio there. Of the time we got there, studio was crowded with people waiting to take passport photos.

Studio manager freaked out a bit when he saw a group of children calling a supposedly newly wed couple "Ame" and "Tate". We tried to calm him down by explaining that we were actors and actresses from a theater who were taking photographs for the poster of the coming up play.

And it was a mess. You can tell. Seth put on his long sad face and Koeli pretended to be the statue of liberty by holding the album so high by one arm. When we told her to put it down, she started crying. Her make up was gone and her face was swollen. Finally, we decided that we should take instead separated photo of each kid and then cut and paste to include everyone into the main photo.

How's about our honey moon? We came back and locked the kids in one room while we two sat in the sun and enjoyed our champagne. We were so happy.

Saturday, May 1, 2010

Trong bóng nắng

Dù cho nhắm mắt lại vẫn thấy một khoảng trắng xóa. Rồi những bóng nắng chạy vụt qua hai mí mắt khép hờ. Rồi tất cả lại chìm vào bóng tối. Xe chạy rần rần. Người lúc nào cũng chực đổ về phía trước sau mỗi lần xe cua gấp tránh những chiếc xe chạy ngược lại từ Colombo về Matara. Gió từ cửa sổ ào ạt đổ vào trong xe, chi viện cho đám người đang lố nhố chen chúc dọc chiếc xe. Sức nóng của động cơ từ dưới tấm sàn kim loại bốc lên ngút ngàn, vượt qua cả lớp thảm nhựa lót qua loa, qua lớp đế cao su của đôi dép. Mồ hôi túa ra từ bàn chân nhớp nhúa khiến những hạt cát còn sót lại nơi ống quần càng dính chặt lấy chân. Nóng và khát nước.



Đi xe bus ở Sri Lanka luôn đem lại một thứ cảm giác kì cục và có nhiều phần khôi hài. Ở trên mỗi chiếc xe là vài chiếc loa cực lớn và vô cùng tốn diện tích trên giá để hành lý và phần lớn thời gian dùng để phát ra thứ nhạc chát xình chát bùm kiểu indie mua vui cho việc đi xe. Thế là xe cứ vừa chạy vừa giật ầm ầm như nhịp nhạc, và người trên xe thì đổ ầm ầm theo mỗi lần phanh gấp. Thi thoảng giữa những lúc chờ lấp đầy khách, một người hát rong bước lên xe với chiếc xắc và bắt đầu hát đến nẫu cả ruột một bài dân ca, một người ăn xin trình ra một tờ giấy chứng nhận tình trạng sức khỏe có dấu đỏ của bệnh viện, và những người bán hàng. Rất nhiều người bán hàng với những mẹt kẹo vừng màu hổ phách, lạc rang muối và lá curry thơm nức mũi, quýt căng bóng mọng nước.

Mình thích những giây phút mắt chạm phải ánh nhìn trìu mến và một nụ cười dè dặt nhưng chân thành.

Những khuôn mặt lạ lẫm nhưng nụ cười thì thân quen.

Cách người ta nhường chỗ cho những người đang đứng trong những chuyến xe dài 6 tiếng.

Quả quýt đón từ tay những người lạ.

Giữa những ngày nắng gắt đến mức mồ hôi cay xè nơi mí mắt và bàn chân bỏng rát, giữa những ngày mưa miên man, nước từ trên những bức tường của Galle Fort chảy thành dòng thác, đường phố biến thành sông, vẫn có những giây phút mình thấy hạnh phúc vì đã tới đây chứ không phải một nơi nào khác. Và rồi lại tiếp tục đi trong bóng nắng.

Saturday, February 20, 2010

If he were Peter Pan, I would be his Wendy. As long as I can be, as long as he let me be.

Monday, January 11, 2010

Nửa tỉnh nửa mê vào lúc rạng đông

Quỳnh Anh hồi còn gầy và ngây thơ:))

Dạo gần đây tôi hay có những giấc mơ chỉ rặt hai màu đen trắng. Cứ như thể cuộc sống chưa đủ những chán chường và những sự việc lặp lại đến phát chán tới nỗi ngay cả đến trong mơ tôi cũng không có nổi một vài gam màu rực rỡ vui tươi. Buồn nhất là khi tôi toàn tơ tưởng tới những tấm sari và từng kệ cao chất đầy những lọ gia vị đủ loại y như trong The Mistress of Spices-những thứ đáng ra phải cực kì sặc sỡ, và bắt mắt thì lại hiện ra thật buồn tẻ và đơn điệu.

Mẹ sắp sửa sang tuổi 46 vào ngày 12 tới đây và đang dần chấp nhận thực tế là mình đang già đi. Mẹ chuyên tâm hơn vào những công việc dành cho các cụ hưu trí như đan len, chăm sóc cây trồng hoa trái trên sân thượng, nuôi rùa,... Mẹ cũng đã thôi không bảo Tôi mới có đôi mươi khi nói chuyện với bạn bè. Mẹ quyết định không nhổ tóc bạc nữa vì lo ngại rằng với tần số 20 sợi/ ngày chẳng mấy chốc thì sẽ bị hói. Mẹ không còn cười cợt khi nhắc đến việc bố đeo kính lão - một biểu hiện rõ ràng nhất của tuổi già. Mẹ nói về chứng đau khớp như thể một triệu chứng của căn bệnh ung thư không thuộc chữa. Không khí gia đình trở nên căng thẳng trong giai đoạn chuyển giao tuổi tác của mẹ mà khoa học người ta nôm na gọi là thời kì tiền mãn kinh. Mẹ hay dỗi, hay tủi thân và dễ bị kích động tới nỗi bố và các con gái cũng đã chán chẳng buồn đáp lại mỗi khi mẹ cáu gắt loạn cả nhà. Quả là quá khó khăn cho một người ham vui như mẹ chấp nhận sự thật rằng độ tuổi 46 đòi hỏi một sự đứng đắn và nghiêm túc cả về hình thức cũng như cách nói chuyện (điều mà mẹ luôn thiếu)!

Markie đã quay lại trường và mình bị nhớ cậu ta hơn bình thường một chút.